Book Blog

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Sản xuất lúa giống tại Đồng bằng sông Cửu Long

 tháng 11 09, 2018     Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung tài liệu: Sản xuất lúa giống tại Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long với tiềm năng đa dạng, phong phú và là vùng trọng điểm sản xuất lương thực.  Sản lượng lúa chiếm khoảng 52% tổng sản lượng lúa của cả nước, hàng năm đóng góp trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu, sản xuất lúa ở ĐBSCL có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phần tích cực trong xuất khẩu.
Tuy nhiên, thời gian qua việc sản xuất lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng còn biểu hiện sự thiếu ổn định và bền vững. Sự xuất hiện nhiều loại dịch hại với mức bộc phát, lan truyền ngày càng cao và liên tục đã làm suy giảm đáng kể năng suất và sản lượng lúa của toàn vùng, tình hình này đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm, nhất là sử dụng giống và bố trí mùa vụ canh tác phù hợp trong sản xuất lúa ở ĐBSCL hiện nay. 
Với mục tiêu giúp cho cán bộ và nông dân trong vùng hiểu biết thêm về việc sử dụng hợp lý giống và bố trí thời vụ phù hợp trong sản xuất lúa Cục Trồng trọt biên soạn tập sách này với mong muốn góp phần hướng dẫn nông dân phát triển sản xuất lúa có hiệu quả và bền vững.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Đánh giá sự biến động đất mặn và đất phèn vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau 30 năm sử dụng

 tháng 11 07, 2018     Nghiên cứu khoa học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung tài liệu: Đánh giá sự biến động đất mặn và đất phèn vùng Đồng bằng sông Cửu Long sau 30 năm sử dụng

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng châu thổ  l ớn nhất của nước ta, có tổng diện tích tự  nhiên (DTTN) khoảng 40.602 km², chiếm 12,3% diện tích toàn quốc; là vùng kinh tế  có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của cả  nước. Đất đai nơi đây chủ yếu được hình thành do sự  bồi đắp phù sa của hệ  thống sông Cửu Long. Vì vậy về  bản chất đất đai  ở  đây chủ  yếu là đất phù sa. Tuy nhiên do chịu tác động của thủy triều, rừng ngập mặn đã hình thành nên nhóm đất mặn và đất phèn với diện tích khoảng 2,4 triệu ha (chiếm 59,5% DTTN). Những vùng đất này đang là nơi có những hoạt động sản xuất nông nghiệp quan trọng như: Sản xuất lúa, phát triển cây ăn quảvà nuôi trồng thủy sản... Kinh tế nông - lâm –  ngư  nghiệp chiếm tới 44,7% trong cơ cấu kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Qua nhiều năm khai thác và sử dụng  làm cho di ện tích cũng nhưtính chất của đất mặn và đất phèn   đã  có  sựbiến   động   đáng  kể.  Vì  vậy,  việc  đánh  giá  sựbiến   động  cảvềsốlượng  và  chất lượng của đất m ặn và đất phèn cần được quan tâm để kịp thời nhằm đưa ra các giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Nghiên cứu bệnh tôm

 tháng 11 07, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung tài liệu: Nghiên cứu bệnh tôm

Hiện tượng đỏ  thân  hay đỏ phụ  bộ ở tôm  nuôi có thể do  nhiều tác nhân gây bệnh khác nhau gây nên. Cũng có trường hợp nhiều tác nhân gây bệnh cùng kết hợp gây nên tình trạng trên. Mặc dù vậy, dấu hiệu đỏ thân hay đỏ phụ bộ cũng giúp cho người chẩn đoán đề xuất những khả năng có thể xác định được tác nhân gây bệnh nhanh và chính xác nhất.
Hiện tượng vỏ tôm có màu xanhcó thể là hậu quả của những biến động xấu của môi trường nuôi hoặc dothành phần sắc tố có trong thức ăn của tôm nuôi. Mặt khác, có trường hợp hiện tượng vỏ tôm có màu xanh là do tôm bị nhiễm virus gây bệnh hoại tử cơquan tạo máu và cơquan lập biểu mô, xuất huyết ruột hay thiếu astaxanthin.
Hiện tượng đầu vàng thường do tôm bị bệnh ở gan tụy hay bị nhiễm virus gây bệnh đầu vàng. Tuy nhiên có khi tôm bị nhiễm virus lại không có dấu hiệu đầu vàng.  Cho  nên  ngoài  việc  quan  sát  dấu  hiệu  bệnh,  việc  xác  định  tác  nhân  gây bệnh là rất quan trọng.

CHƯƠNG 1. NHỮNG KHÁI NIỆM & PHƯƠNG PHÁP CƠ BẢN NGHIÊN CỨU BỆNH
TÔM
I. Nguyên nhân và điều kiện phát sinh bệnh ở tôm nuôi
1. Vật chủ
2. Tác nhân gây bệnh
3. Môi trường
II. Phương pháp thu và bảo quản mẫuchẩn đoán bệnh tôm
1. Thu mẫu
2. Chuyển mẫu đến phòng thí nghiệm
3. Bảo quản mẫu
III. Phương pháp phát hiện bệnh ở tôm nuôi
1. Phải theo dõi các thông tin về môi trường và quản lý ao nuôi
2. Quan sát dấuhiệu bệnh bên ngoài cơthể tôm
IV. Phương pháp chẩn đoán bệnh
1. Những phương pháp cơbản trong phòng thí nghiệm
2. Phương pháp phân lập và định danh vi khuẩn
3. Phương pháp mô học
4. Phương pháp tạo phản ứng chuỗi nhờ polymerase (PCR)
CHƯƠNG 2. BỆNH VIRUS
I. Bệnh MBV
II. Bệnh đầu vàng
III. Bệnh đốm trắng
CHƯƠNG 3. BỆNH VI KHUẨN
I. Bệnh phát sáng
II. BệnhVibrio
III. Bệnh đốm nâu, đốm đen
IV.Bệnh vi khuẩn dạng sợi
CHƯƠNG 4. BỆNH NẤM VÀ NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT
I. Bệnh nấm Mycosis .....
II. Bệnh do vi sinh vật bám
CHƯƠNG 5. BỆNH DO CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC
I. Bệnh mang (mang đen, mang đỏ, phồng nắp mang)
II. Bệnh hoại cơ
III.Bệnh cong thân
IV.Bệnh lột xác không thành công

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Bệnh học thuỷ sản

 tháng 11 06, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung giáo trình: Bệnh học thuỷ sản

Bệnh Học Thủy Sản là môn chuyên sâu của ngành thủy sản. Môn học này ra đời trên cơ sở sự phát triển của y học, từ nghiên cứu ký sinh trùng của người: sán lá, sán dây mà ký chủ trung gian là cá. Đồng thời nghề nuôi nuôi thuỷ sản càng ngày càng phát triển cao, nuôi với qui mô công nghiệp hóa, tập trung số lượng lớn cá và mật độ cao thì việc phòng, trị bệnh cá cần được giải quyết cấp thiết. Từ đó dần dần môn Bệnh Học Thủy Sản ra đời. Tuy nhiên, Bệnh Học Thủy Sản là môn học mới và phát triển muôn so với các môn học khác. Môn học này có liên quan chặt chẽ với các môn cơ sở chuyên ngành khác như vi sinh, thủy hóa, ngư loại, sinh lý cá ...đặc biệt là môn học hỗ trợ đắc lực cho kỹ thuật nuôi và sản xuất giống.
Khi phong trào nuôi thủy sản chưa phát triển, các đối tượng nuôi chủ yếu là cá, do đó môn học chỉ nghiên cứu trên đối tượng là cá và có tên là môn bệnh cá học Ichthyopathologyhoặc Fish pathology. Sau thập kỷ 70 trở lại đây phong trào nuôi thủy sản phát triển, nhiều đối tượng đã được nuôi với hình thức nuôi rất đa dạng (Ao đất, lồng, bè, đăng quầng....), ngoài đối tượng nuôi là cá, các đối tượng khác được nghiên cứu để nuôi: tôm, cua, nhuyễn thể... Cho nên môn học phải nghiên cứu các bệnh của nhiều loại động vật thủy sản khácnên tên gọi của môn học được mở rộng hơn và có tên là Pathology of Aquatic Animal.
Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Thực hành bón phân cho lúa theo bảng so màu lá

 tháng 11 06, 2018     Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung tài liệu: Thực hành bón phân cho lúa theo bảng so màu lá

Bảng  so  màu  lá  lúa  là  một  tiến  bộ  khoa  học  kỹ thuật mới được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Hiện nay, ở nước ta nhiều nông dân trồng lúa đã áp dụng theo bảng so màu lá đạt kết quả tốt. Khi áp dụng bảng so màu lá vào đồng ruộng là một giải pháp tích cực cho những người  trồng  lúa,  góp  phần  đảm  bảo  năng  suất  và  chất lượng  lúa,  đồng  thời  hạ  giá  thành  sản  phẩm  tăng  thu nhập cho người nông dân. Bảng so màu lá được chế tạo theo công nghệ của Nhật Bản, nhằm xác định màu sắc lá lúa và dự đoán tình trạng thiếu hay thừa đạm trong cây, từ đó nông dân có thể  dễ  dàng  quyết  định  bón  hay  không  bón  đạm  trên ruộng lúa của mình.
Bảng so màu lá lúa gồm 1 khung lớn có kích thước: 8cm x 25 cm, trên khung lớn có 6 ô nhỏ có màu xanh khác nhau từ màu xanh đến màu xanh đậm đại diện cho màu sắc lá lúa từ thiếu đạm đến dư đạm và được đánh dấu từ số 1 đến số 6.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Kết quả thực hiện mô hình 3 giảm 3 tăng ở Việt Nam

 tháng 11 05, 2018     Nghiên cứu khoa học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung tài liệu: Kết quả thực hiện mô hình 3 giảm 3 tăng ở Việt Nam

Mô hình canh tác lúa theo cách “3 giảm 3 tăng” ra đời từ  năm 2005 bởi các nhà khoa học Việt Nam, ngay sau khi ra đời đã được Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn công nhận là tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp. 3 giảm có nghĩa là giảm lượng giống gieo, giảm lượng phân bón, giảm thuốc trừ  sâu. 3 tăng nghĩa là tăng năng suất, tăng chất lượng và tăng hiệu quả. Nhờ những  lợi ích to lớn mang lại, mà mô hình trồng lúa theo cách 3 giảm 3 tăng đã và đang được nhân rộng trong phạm vi cả nước. Hiện nay nhiều tỉnh thành đã áp dụng mô hình này rất thành công như Long An, Quảng Bình, Cần Thơ, Vĩnh Phúc.…
Biện pháp “3 giảm 3 tăng” (3G3T) ra đời dựa trên sự  kế  thừa chương trình quản lý dịch hại tổng hợp trên cây lúa (IPM). Giải pháp này được bởi 3 nhà khoa học Việt Nam đưa ra tại hội nghị   quốc tế  về  “Quản lý dinh dưỡng và sâu bệnh cho hệ thống thâm canh lúa” được tổ  chức tại viện nghiên cứu lúa quốc tế từ  ngày 20-22 tháng 5 năm 2005. Ngay sau khi được áp dụng, Bộ  Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn  đã công nhận đó là biện pháp kỹ thuật mới nhằm tăng hiệu quả trồng lúa.  Chương trình “3G3T” (giảm lượng giống gieo sạ, phân bón, thuốc trừ  sâu; tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả) đã chứng minh được tính ưu việt của nó và dần trở  thành phong trào rộng khắp, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Đánh giá sự phù hợp của sáng kiến kỹ thuật canh tác lúa trong điều kiện biến đổi khí hậu và giải pháp nhân rộng ở các tỉnh thuộc chương trình CCCEP

 tháng 11 04, 2018     Nông nghiệp, Tài liệu dự án     No comments   


Trích dẫn nội dung tài liệu: Đánh giá sự phù hợp của sáng kiến kỹ thuật canh tác lúa trong điều kiện biến đổi khí hậu và giải pháp nhân rộng ở các tỉnh thuộc chương trình CCCEP

Xâm nhập mặn, hạn hán, lũlụt, thiếu nước ngọt vào mùa khô là những tác  đông trực tiếp của biến đổi khí hậu đến hai hệthống canh tác lúa chính ở  ở  Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL): hệ thống lúa tôm và hệthống chuyên canh lúa. Hệ thống lúa-tôm thường xuyên đối mặt với nguy cơmất thu hoặc năng xuất thấp do thiếu giống có khảnăng chịu mặn cao, chống chịu sâu bệnh, đổngã, hạn hán và trình độcanh tác của người dân yếu. Hệ thống chuyên canh lúa thường xuyên đối mặt với nguy cơ sâu bệnh tăng, ngập úng trong mùa mưa và thiếu nước ngọt vào mùa khô. Những tác động này đang đưa người trồng lúa ở  ĐBSCL phải  đối mặt với nguy cơ mất dần diện tích trồng lúa, mất mùa, và giảm sản lượng lúa. Thêm vào đó, biến động của thị trường và giá cả thấp, thất thường đã thực sự làm cho sinh kế của người dân trồng lúa ở vùng này  đang bị lao  đao. Trong bối cảnh này, áp dụng những đổi mới kỹ thuật và tổ chức phù vào các hệ thống canh tác lúa hiện nay là cấp thiết. Hệ thống hỗ trợ đổi mới sản xuất lúa ở ĐBSCL đã và đang phát triển và giới thiệu nhiều đổi mới vào sản xuất. Với hướng tiếp cận theo ‛nguồn cung’, được định hướng từ chủ trương và chính sách phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực của nhà nước, hệ thống này chưa thực sự đáp ứng những nhu cầu về áp dụng đổi mới của sản xuất lúa trong điều kiện hiện nay. Triển khai các chính sách của Nhà nước, hệ thống cung cấp kiến thức khoa học kỹ thuật tập trung chính vào xây dựng vào chuyển các giải pháp kỹ thuật cho người dân. Tuy  đã có những nỗ lực về xã hội hóa công tác khuyến nông nhưng phương pháp chủ yếu vẫn là khuyến nông theo kiểu truyền thống, hạn chế hiệu quả áp dụng vào thực tế sản xuất. Hệ thống cung ứng giống và vật tư  đầu vào có sự tham gia và  đầu tưcủa cả khối các đơn vị nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Hệthống này có hệ thống phân phối  đa cấp, cung cấp đa dạng các loại sản phẩm, đáp ứng được nhu cầu của thực tế sản xuất. Tuy nhiên, do có cấu trúc đa cấp nên chi phí phụ trôi cao và do cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp  để  đạt lợi nhuân tối  đa nên chất lượng sản phẩm không  đồng  đều và  đảm bảo. Giá giống và vật tư đầu vào thường được đội tăng lên hàng năm. Hệ thống chế biến và tiêu thụsản phẩm lúa gạo với sự tham gia của cả khối nhà nước và tư nhân đã góp phần vào lưu thông hàng hóa trên thị trường. Tuy vậy, do có sự độc quyền của hệ thống thương lái, sự coi thường về tiêu chuẩn chất lượng chất lượng hàng hóa, sự thiếu đầu tư về hệ thống kho bãi và công nghệ bảo quản chế biến, và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các  đơn vị kinh doanh, và thiếu sựquản lý vĩ mô hiệu quảcủa nhà nước, hệ thống này đang thực sựlàm cho thị trường mất ổn định, và thiếu công bằng trong phân phối lợi nhuận của cả chuỗi giá trị.
Hoạt  động  đánh  giá  tính  phù  hợp  của  các  kỹ thuật  mới  trong  sản  xuất  lúa  chịu  tác động biến đổi khí hậu và xây dựng giải pháp tổchức nhân rộng ởcác tỉnh thuộc chương trình CCCEP được tiến hành nhằm:

•  Phân tích hiện trạng và  đánh giá khả năng cung cấp vật tưvà hoạt  động khuyến nông cho nông dân vùng lúa
•  Đánh giá tính phù hợp về kinh tế và kỹ thuật của một số biện pháp kỹ thuật và giống chịu mặn được giới thiệu vảo các tỉnh của CCCEP trong thời gian qua
•  Xây dựng các giải pháp tổ chức nhân rộng các biện pháp kỹ thuật phù hợp

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Tài liệu tập huấn ICM 3 giảm 3 tăng trên cây lúa

 tháng 11 03, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Tài liệu tập huấn ICM 3 giảm 3 tăng trên cây lúa

ICM nghĩa là quản lý cây trồng tổng hợp, chúng bao gồm hai vấn đề:

- Quản lý dinh dưỡng, chăm sóc cây trồng:

Sửdụng các loại giống lúa tốt, năng suất cao, sạch sâu bệnh.
Gieo trồng mật độ đảm bảo, phát huy tiềm năng năng suất của giống
Sử dụng phân bón đầy đủ, hợp lý
Chế độ tưới nước khoa học, phù hợp nhu cầu phát triển của cây.

- Và quản lý dịch hại đối với cây trồng:

 Sử dụng giống kháng sâu bệnh để hạn chếdùng thuốc BVTV
 Áp dụng  điều tra phân tích hệ sinh thái trước khi  đưa ra biện pháp xữ lý đồng ruộng ( IPM )
Quản lý dinh dưỡng nhằm sửdụng vật t ưphân bón, kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc khoa học, hợp lý đểcây trồng sinh trưởng thuận lợi t ạo đ i ều kiện đạt n ăng suất cao.
Quản  lý  dịch  hại  nhằm  điều  khiển  sâu  bệnh  phát  sinh  trên  đồng  ruộng  dưới ngưỡng  thiệt  hại  về kinh  tế (sâu  bệnh  có  trên  đồng  ruộng  nhưng  chưa  đến  mức  phải phòng trừ) bằng các biện pháp kỹthuật khác nhau, giữ cho cây trồng phát triển thuận lợi phát huy được tiềm năng suất cây trồng.
Tìm hiểu mối quan hệ giữa cây trồng, sâu bệnh hại, thiên địch và điều kiện ngoại cảnh giúp cho ta có những biện pháp tác  động phù hợp lên mỗi yếu tố sẽ mang lại hiệu quả cao cho sản xuất.
Như vậy, nếu chúng ta áp dụng được các biện pháp kỹthuật tiến tiến đểchăm sóc cây trồng và quản lý dịch hại tốt sẽ giảm được chi phí đầu vào và tăng hiệu quả sản xuất đó chính là “ 3 giảm, 3 tăng ”.
Quá trình đổi mới và áp dụng các tiến bộ Khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tăng vụ, s ửdụng giống thâm canh chất lượng cao, nâng cao trình độ thâm canh trong s ản xuất của người nông dân đã làm thay đổi bộmặt nông nghiệp cả nước nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng một cách rõ rệt.  Để phát triển nông nghiệp bền vững đòi hỏi vi ệc áp dụng và phối hợp hài hòa các biện pháp phòng trừ sâu bệnh khác nhau là rất cần thiết. Trong thời gian qua chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)  đã đưa lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất cho người nông dân, giảm thiểu việc sử dụng thuốc BVTV đảm bảo môi trường an toàn cho con người và vật nuôi. Thời gian gần đây chương trình quản lý tổng hợp dinh dưỡng và dịch hại trên cây lúa (ICM) hay còn g ọi là ch ương trình 3 giảm, 3 tăng đã được bà con nông dân trong cả nước đồng tình ủng hộ và thực hiện.
 Những ruộng  đã thực hiện theo chương trình 3 giảm, 3 tăng  đều giảm được chi phí về: giống, phân đạm, thuốc trừ sâu và tăng năng suất lúa góp phần làm ra nông sản sạch, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên việc thực hiện chương trình 3 giảm, 3 tăng trên địa bàn tỉnh còn ở diện hẹp, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng, bởi vậy việc chuyển giao tiến bộ KHKT tiên tiến này cho bà con nông dân đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc là rất cần thiết. Đây là chương trình chuyển giao tiến bộ KHKT cho nông dân đơn giản dể thực hiện và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Báo cáo Biện pháp quản lý sâu bệnh 1 phải 5 giảm

 tháng 11 03, 2018     Báo cáo, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Báo cáo Biện pháp quản lý sâu bệnh 1 phải 5 giảm

1 phải 5 giảm là một giải pháp kỹ thuật tổng hợp từ giải pháp kỹ thuật 3 giảm 3 tăng và bổ sung thêm 2 giảm (giảm lượng nước tưới, giảm thất thoát sau thu hoạch. Còn một phải là phải sử dụng giống cấp xác nhận.



Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình thực tập Cây lúa

 tháng 10 30, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Giáo trình thực tập Cây lúa

1 Đặc tính hình thể cây lúa
2 Đặc tính sinh vật học cây lúa
3 Phương pháp thử độ nẩy mầm
4 Tính tỉ lệ hạt chắc và lượng giống cần
5 Phương pháp ngâm ủ hạt giống
6 Phương pháp làm mạ (mạ ướt, mạ khô)
7 Bón phân cho lúa
8 Thu hoạch lúa
9 Thử phẩm chất hạt gạo (chất lượng xoay, dạng hạt, nhiệt độ đông hồ, sự vương dài của hạt gạo, xác định hàm lượng amylose, mùi vị)

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình Phát triển bền vững

 tháng 10 28, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Giáo trình Phát triển bền vững

Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã trở thành đặc trưng cơ bản cuả thời đại và là quốc sách của hầu hết các nước trên thế giới. Phát triển kinh tế xã hội là con đường tất yếu đi lên cuả mỗi nước, nhất là các nước đang phát triển như nước ta, nhưng cần phải phát triển theo mô hình bền vững, đó là phát triển mạnh mẽ, liên tục, của nền kinh tế đồng thời với việc lành mạnh hoá xã hội và bảo vệ môi trường.
Trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường đã được Đảng và nhà nước ta quan tâm đặc biệt. Chỉ thị36- CT/TW, ngày 25/6/1998 của bội chính trị trung ương Đảng Cộng Sản Việt nam về“Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã chỉ rõ: “ Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân lọai, là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ trên phạm vi tòan thế giới”.
Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên và môi trường đối với sự phát triển kinh tế- xã hội, nghiên cứu cơ bản về các qui luật kinh tế và môi trường, khảnăng áp dụng các qui luật của nó vào thực tế để phát triển bền vững cũng đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu. Tuy nhiên, ở Việt Nam, khái niệm vềphát triển bền vững và nghiên cứu về sự phát triển bền vững ở Việt nam, những năm gần đây mới được đề cập đến. Để giúp cho sinh viên có tài liệu tham khảo vể lãnh vực này, chúng tôi viết giáo trình “Phát triển bền vững”(Sustainable Development ).Giáo trình tập trung vào các vấn đề về phát triển bền vững với nội dung nhưsau:
Chương I. Khái niệm cơ bản về phát triển bền vững, lịch sửphát triển bền vững, dân sốvà tài nguyên môi trường, các độ đo về phát triển bển vững, các nguyên tắc phát triển bền vững và các mô hình phát triển bền vững.
Chương II. Định lượng hóa sự phát triển bền vững: Định lượng hóa sự phát triển bền vững ở cấp quốc gia, cấp địa phương,các yêu cầu của việc lưa chọn các tiêu chí và chỉ thị PTBV và qui trình xác định các chỉ thị đánh giá phát triển bền vững.
Chương III.Các nhóm mục tiêu của sự phát triển bền vững. Tập trung vào các đối tượng, các ngành nghề dễ tổn hại đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên như: người tiêu thụ, người kinh doanh, phụ nữ, người dân tộc. Các ngành ảnh hưởng lớn đến tài nguyên môi trường:công nghiệp, nông nghiệp, du lịch với phát triển bền vững.
Chương IV. Phát triển bền vững ở Việt Nam trong thế kỷ 21.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Bài giảng Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn

 tháng 10 27, 2018     Giáo trình đại học, Kinh tế, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Bài giảng Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn.

Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa.

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Điều đó do tác động của các nhân tố đó là: Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người.
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị. Điều đó được thể hiện chủ yếu ở các mặt sau đây:
Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp, nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình nông nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác đó mà năng suất lao động nông nghiệp không ngừng tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. Đó là xu hướng có tính qui luật của mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp. ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà trước hết là khu vực nông nghiệp và nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị trường thế giới.
Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông, lâm thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hoá công nghiệp. Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm thuỷ sản. Xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao của nền kinh tế. ở Thái Lan năm 1970 tỷ trọng giá trị nông, lâm, thuỷ sản trong tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm 76,71% giảm xuống 59,36% năm 1980; 38,11% năm 1990; 35,40% năm 1991; 34,57% năm 1992; 29,80% năm 1993 và 29,60% năm 1994.
Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh v.v... làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng v.v... Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường.
Tóm lại, nền kinh tế thị trường, vai trò của nông nghiệp trong sự phát triển bao gồm hai loại đóng góp: thứ nhất là đóng góp về thị trường - cung cấp sản phẩm cho thị trường trong và ngoài nước, sản phẩm tiêu dùng cho các khu vực khác, thứ hai là sự đóng góp về nhân tố diễn ra khi có sự chuyển dịch các nguồn lực (lao động, vốn v.v...) từ nông nghiệp sang khu vực khác.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình Hệ thống canh tác

 tháng 10 22, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Giáo trình Hệ thống canh tác

Giáo  trình  Hệ Thống Canh Tác được  biên soạn  cho sinh  viên ngành Nông nghiệp. 

Giáo trình nhằm cung cấp kiến thức cơ bản về phương cách xây dựng một hệ thống canh tác trên  quan điểm tổng hợp điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và con người. Giáo trình bao gồm: Giới thiệu các hệ thống canh tác ở Đồng Bằng Sông Cửu Long; Xác định các yêu cầu của hệ thống canh tác; Điều tra khảo sát, đánh giá tính thích nghi, cải tiến hệ thống canh tác; Thử nghiệm và nhân rộng hệ thống canh tác đã được cải tiến.

Hệ thống canh tác (HTCT) là một thành phần của hệ thống nông nghiệp, nó có thể được chia thành những hệ thống nhỏ hơn như hệ thống cây trồng, hệ thống chăn nuôi, hệ thống thủy sản…

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình sinh thái học đồng ruộng

 tháng 10 21, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Giáo trình sinh thái học đồng ruộng

Trong các hệ sinh thái lục địa thì hệ sinh thái đồng ruộng là nơi có biến đổi tự nhiên sâu sắc nhất kể từ khi có loài người đến nay. 

Trong lịch phát triển của sinh thái học, bộ môn được phát triển đầu tiên là sinh thái học liên hệ với rừng, sau đó với đồng cỏ, ao hồ, sau cùng mới xây dựng được sinh thái học liên quan với đồng ruộng. Loài người bắt đầu làm ruộng vào cuối thời đại đồ đá cũ (trước công nguyên khoảng 7.000 năm), so với lịch sử lâu dài một triệu năm của loài người thì phải nói là khá gần. Trong quá trình phát triển nông nghiệp, trí tuệ loài người không dừng lại ở việc điều khiển môi trường sống cho cây trồng, mà còn tiến lên điều khiển di truyền của thực vật.
Sự phát triển của nông nghiệp hiện đại đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Khuynh hướng tăng việc đầu tư, thực chất là sự đầu tư năng lượng hoá thạch, để thay thế dần cho các nguồn lợi tự nhiên đó làm môi trường sống bị hủy hoại. Do đấy, cần phải phát triển một nền nông nghiệp dựa nhiều hơn vào việc khai thác hợp lý các nguồn lợi tự nhiên của hệ sinh thái và bảo vệ môi trường sống. đó là nhiệm vụ số một của sinh thái học nông nghiệp - cơ sở của việc bố trí cơ cấu cây trồng và vật nuôi hợp lý ở các vùng sản xuất nông nghiệp.
Sự phát triển kinh tế - xã hội đặt ra yêu cầu ngành nông nghiệp phải phấn đấu để tăng năng suất cây trồng hơn nữa. Ruộng cây trồng năng suất cao là một hệ sinh thái hoạt động hài hoà, đạt được sự cân đối giữa các yếu tố cấu thành nó. Do đấy, thực chất của kỹ thuật tăng năng suất cây trồng là kỹ thuật điều khiển sự hoạt động của hệ sinh thái đồng ruộng năng suất cao.
Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình Cây đa niên Phần I Cây ăn trái

 tháng 10 21, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Giáo trình Cây đa niên Phần I Cây ăn trái

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tổng diện tích gần 4 triệu ha, vùng khí hậu gió mùa cận xích đạo, nhiệt độtrung bình hàng năm từ 24 đến 27 độ C, tổng nhiệt lượng cảnăm là 9.700-10.000 độ C. Các yếu tố như ánh nắng, gió, ẩm độ không khí, bức xạ mặt trời, ... mang tính ổn định, thuận lợi cho sản xuất cây ăn trái trên bình diện rộng với tổng diện tích trồng cây ăn trái là 175.670 ha, chiếm 50,7% diện tích cây ăn trái của cả nước. Điều nầy nói lên tầm quan trọng của ngành trồng cây ăn trái nhiệt đới ở ĐBSCL.
Việc phát triển kinh tế vườn góp phần đáng kể trong việc nâng cao vai trò sản xuất nông sản hàng hóa, đa dạng hóa sản xuất. Nhìn chung, cây trái vùng sông nước Nam bộ quanh năm tươi tốt, chủng loại phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước, một phần cho xuất khẩu. Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu cho riêng vùng nhiệt đới, cộng với tiềm năng giống cây ăn trái chấp cánh cho sản xuất trái cây nhiệt đới bước dài khi Việt Nam ta hội nhập cùng các nước trong khu vực. Bên cạnh một số thuận lợi trên, việc canh tác còn nhiều vấn đề bất cập, tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa đến tận từng người dân do sản xuất còn manh mún, lẻ tẻ, quy mô nông trại chưa đủ lớn, hợp tác xã nông nghiệp chưa hình thành, mạng lưới phân phối chưa đi vào công nghiệp hóa, việc áp dụng cơ giới hóa còn nhiều khó khăn ... Giải quyết được những bất cập trên thì hàng nông sản của ta mới có thể cạnh tranh cùng các
nước trong khu vực. Mục tiêu phát triển cho xuất khẩu và tiêu thụ trái cây nội địa cần tạo nên những vùng chuyên canh cây trái đặc sản cho riêng từng vùng đất, thích hợp từng chủng cây với sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ khoa học nông nghiệp từ khâu chọn đất, giống, kỹ thuật canh tác, thu hoạch, vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình Cây đa niên Phần II Cây công nghiệp

 tháng 10 20, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung: Giáo trình Cây đa niên Phần II Cây công nghiệp

Đồng Bằng Sông Cửu Long(ĐBSCL) là vựa lúa, có nhiệm vụ giữ vững an ninh lương thực cho cảnước, nó là vùng đất thấp, nhiều sét có nước ngọt hầu như quanh năm nên rất thích hợp cho cây lúa nước phát triển. Tuy nhiên, đất ĐBSCL cũng rất đa dạng, để khai thác hết tiềm năng đất đai của vùng cũng như để đa dạng hóa cây trồng, tăng thêm nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chếbiến hoặc để xuất khẩu, việc phát triển một số loại cây công nghiệp như dừa, ca cao, điều, tiêu,… là rất cần thiết. Những vùng đất ven biển ở ĐBSCL rất thích hợp cho dừa phát triển, đã làm cho cây dừa đã nổi tiếng với địa danh dừa Bến Tre hay dừa Phú Tân, Cái Nước thuộc tỉnh Cà Mau. Bến tre là tỉnh có diện tích trồng dừa lớn nhất nước (35.000 ha), cung cấp khoảng  200  triệu  trái/năm.  Hàng  năm,  tỉnh đã xuất  40 triệu  trái  sang  Trung  Quốc, Cambodia và Nam Triều Tiên, và hiện nay cũng là tỉnh sản xuất copra nhiều nhất. Tỉnh Bến Tre có nhà máy chếbiến dừa, liên doanh giữa Silvermill-Sri Lanka và Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu Trúc Giang-Bến Tre trị giá 3 triệu đô(51% vốn đầu tư), nhà máy nầy có thểchếbiến 120.000-150.000 trái dừa mỗi ngày. Lúc đầu nhà máy mua dừa ở địa phương, tương lai có thể nhập khẩu dừa từ Indonesia mới đáp ứng nhu cầu. Hiện nay có khoảng 30 nhà máy chếbiến dừa và nhu cầu dừa của các nhà máy nầy vượt  quá khả năng  cung  cấp  của địa  phương.  Riêng  nhà máy  liên  doanh  giữa Silvermill-Sri Lanka và Công ty sản xuất và xuất nhập khẩu Trúc Giang-Bến Tre tiêu thụ khoảng một nửa sản lượng dừa của tỉnh. Cây ca cao thích đất yêm dưới tán vườn cây ăn đa niên, cao tán của ĐBSCL và đã cho năng suất cao, sống thọ qua nhiều lần thử nghiệm. Ca cao được trồng đầu tiên ở Cái Mơn (Chợ Lách, Bến tre) từ những năm 1878 do người Pháp mang đến. Đến năm 1960, cây ca cao lại được khuyến khích đưa vào một số tỉnh ở ĐBSCL. Đây là một cây trồng mới nhưng tỏ ra rất thích hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của địa phương. Cây phát triển rất tốt, cho năng suất cao và rất dễ trồng. Tuy nhiên, do sản lượng còn ít, không  có  người  thu  mua do  không  có  nhà  máy  chế  biến  nên  nên  đã  không  khuyến khích người nông dân đẩy mạnh sản xuất ca cao. Trong thập niên 80, do giá ca cao trên thế giới tăng vọt đã kích thích người nông dân trồng ca cao, đặc biệt là Nhà nước phát động phong trào trồng xen ca cao trong vườn dừa, nhằm sử dụng hợp lý đất trong vườn dừa,  đã  làm  cho  diện  tích  trồng  ca  cao  ở  Đồng  Bằng  Sông  Cửu  Long  tăng  lên  gần 20.000 ha. Đến đầu năm 1990, giá ca cao giảm, hiệu quả kinh tế không bằng một số loại cây ăn trái, đồng thời nhà nước không có chính sách thu mua và trợ giá thích hợp nên đã làm cho người trồng ca cao nản lòng và đốn bỏ ca cao. Những năm gần đây, do sự phát triển của các nhà máy chế biến thực phẩm, bánh kẹo làm nhu cầu cung cấp ca cao tăng cao, giá cả ổn định nên cây ca cao được quan tâm phát triển trở lại, trong đó nhiều  nhất  là  tỉnh  Đắc  Lắc  có  506  ha  kế  đến  là  Bến  tre  260  ha,  Bình  Phước  74  ha, Quảng Ngãi 50 ha, Đồng Nai 25 ha. Đặc biệt, trong năm 2003, tổ chức phi chính phủ Mỹ ACRI/VOC có dự án đầu tư 4 triệu Đôla mỹ để phát triển ca cao trong cả nước. Dự án sẽ hỗ trợ giống, kỹ thuật trồng và xúc tiến thị trường tiêu thụ sản phẩm. Thông qua dự án nầy, đến năm 2006 tỉnh Bến Tre sẽ có 10.000 ha ca cao trồng xen trong vườn dừa. Cây điều có mặtở ĐBSCL từlâu. Tuy diện tích chưa nhiều, tập trung phát triển ở  những  đất  có  nhiều  trở  ngại  như  đất  phèn  như  Đồng  Tháp  Mười,  Tứ  Giác  Long Xuyên, Hòn Đất (Kiên Giang), đất triền dọc theo chân núi ở Tịnh Biên, Tri Tôn (An Giang) và đất giồng cát thuộc tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu nhưng đã chứng tỏ cây điều được dùng đểkhai thác tiềm năng đa dạng của đất đai. Năm 1990 cả nước có 2 cơ sở chế biến hạt điều, công suất3.000 tấn nguyên liệu/năm. Đến năm 1993, sản lượng  hạt  điều  cả  nước  tăng  lên  rất  nhiều  nhưng  số  lượng  nhà  máy  chế  biến  không tăng, việc xuất khẩu  hạt  điều thô bị ép giá  đã làm tồn đọng hơn  50%  sản lượng hạt điều. Từ thực tế nầy, các nhà máy chế biến hạt điều được xây dựng rất nhanh, đến năm 1997 đã có 58 nhà máy chế biến hạt điều với công suất 160.000 tấn hạt điều thô/năm và đến năm 1999 đã có 62 cơ sở với công suất 220.000 tấn/năm. Tốc độ phát triển các nhà máy chế biến đã làm giảm nhanh tỉ lệ xuất khẩu hạt điều thô từ 90% trong năm 1990 xuống còn 50% trong năm 1993 và năm 1999 sản lượng hạt điều thô không đủ cung  cấp  cho  các  nhà  máy nên  nước  ta  phải  nhập  khẩu  hạt  điều  thô  để  duy trì  hoạt động của các nhà máy chế hạt điều. Ở ĐBSCL, tiêu được trồng nhiều và nổi tiếng với địa danh tiêu Phú Quốc, Hà Tiên.Trong năm 2003, Việt nam đã xuất khẩu chính thức khoảng 72.000 tấn tiêu. Tuy nhiên,  với  ước  lượng  khoảng  10.000  tấn  xuất  khẩu  sang  Trung  Quốc  nhưng  không được ghi nhận theo số liệu thương mãi chính thức, thì tổng sản lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 82.000 tấn. Sản lượng nầy cho thấy có sự gia tăng 5% so với sản  lượng  xuất  khẩu  78.200  tấn  trong  năm  2002.  Như  vậy,  với  sản  lượng  khoảng 22.000 tấn trong năm 1998, trong 5 năm cuối, xuất khẩu tiêu của Việt Nam đã gia tăng có ý nghĩa. Sản lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2003 chiếm 36% tổng sản lượng tiêu thế giới.Trong 2004, Việt Nam cố gắng giữ vững vị trí đứng đầu thế giới về sản lượng hồ tiêu xuất khẩu. Theo Tổ chức Hồ tiêu thế giới (IPC), sản lượng năm 2004 của các  nước sản  xuất và xuất  khẩu chính  trong tổ  chức  này giảm so với  năm 2003, song tổng sản lượng của toàn thế giới vẫn có thể đạt mức 320.000 tấn của năm trước do các nước như Việt Nam, Campuchia duy trì được sản lượng ở mức cao. Năm 2004, sản lượng hồ tiêu Việt Nam dự kiến đạt khoảng 80.000-90.000 tấn và xuất khẩu khoảng 82.000 tấn. Giá xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam đạt khoảng 1.125 USD/tấn. Với hiện trạng và tiềm năng phát triển nêu trên, những loại cây công nghiệp nầy sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho vùng. Tuy nhiên, cần phải qui hoạch chặt chẽ mức phát triển, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, tổ chức tiêu thụvà dự phòng biến động thị trường để sản xuất được ổn định.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình Chính sách Nông nghiệp

 tháng 10 19, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   


Trích dẫn nội dung tài liệu: Giáo trình Chính sách Nông nghiệp

Khái niệm về chính sách nông nghiệp

Chúng ta có thể điểm qua một số quan niệm vềchính sách như sau:
Chính sách  được hiểu là phương cách,  đường lối hoặc phương hướng dẫn dắt hành động trong việc phân bổvà sửdụng nguồn lực.
Chính sách là tập hợp các quyết sách của Chính phủ  được thểhiện  ở hệ thống quy định trong các văn bản pháp quy nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn trong thực tiễn, điều khiển nền kinh tế hướng tới những mục tiêu nhất định, bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh tế.
Chính sách nông nghiệp là tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phi kinh tế thể hiện sự tác động, can thiệp của Chính phủ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp theo những mục tiêu xác định, trong một thời hạn nhất định.

Chính sách nông nghiệp thể hiện hành động của Chính phủnhằm thay đổi môi trường của sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển.

Các  quan  niệm  vềchính sách, chính sách  nông  nghiệp  trên  đây  đứng  trên  các  góc  độ nghiên cứu, phương thức tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung cơ bản và cùng nhằm vào mục đích phát triển nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng từ sự can thiệp của Chính phủ.
Chính sách nông nghiệp có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông và tiêu thụ sản phẩm. Các vấn đề có liên quan đến sản xuất gồm các tác động đến giá thị trường yếu tố đầu vào, thị trường tư liệu sản xuất, các tác động đến sự tiến bộcủa khoa học, kỹ thuật và công nghệ, các vấn đề có liên quan đến tổchức phối hợp các nguồn lực. Các vấn đề có liên quan đến lưu chuyển sản phẩm gồm thị trường sản phẩm của nông nghiệp, giá bán sản phẩm, thuế tiêu thụsản phẩm, chếbiến, bảo quản, vận chuyển, bán sản phẩm. Các vấn  đề có liên quan  đến tiêu dùng sản phẩm gồm chế  độ phân phối sản phẩm, giá mua sản phẩm, thuếxuất nhập khẩu sản phẩm…

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình Quy hoạch Phát triển nông thôn

 tháng 10 18, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   



Trích dẫn nội dung tài liệu: Giáo trình Quy hoạch Phát triển nông thôn

Phát triển và quy hoạch phát triển là hai vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau. 

Muốn có được sự phát triển bền vững thì phải có quy hoạch hợp lý và trước khi làm quy hoạch thì phải xây dựng được mục tiêu cần đạt tới.
Cập nhật những thông tin mới về quy hoạch phát triển nông thôn trên thế giới và ở Việt Nam.
Nhấn mạnh: phát triển bền vững, chỉ số phát triển con người (HDI), phương pháp tiếp cận có sự tham gia của cộng đồng (PRA), phương pháp tiếp cận đáp ứng yêu cầu (DRA), luật tài nguyên nước, Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020, các vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn, đánh giá hiệu quả của dự án phát triển nông thôn.



Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình kỹ thuật nông nghiệp

 tháng 10 18, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   



Trích dẫn nội dung: Giáo trình kỹ thuật nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp. 

Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa.

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. 

ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Điều đó do tác động của các nhân tố đó là: Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người.


Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg

Giáo trình Cây lúa

 tháng 10 18, 2018     Giáo trình đại học, Nông nghiệp     No comments   



Trích dẫn nội dung tài liệu: Giáo trình Cây lúa

Lúa là cây lương thực quan trọng nhất của nước ta và đặt biệt là ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Trồng lúa là một nghề truyền thống của nhân dân Việt Nam từ rất xa xưa, có lẽ khi người Việt cổ xưa bắt đầu công việc trồng trọt thì cây lúa đã được quan tâm đầu tiên. Kinh nghiệm sản xuất lúa đã hình thành, tích lũy và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của dân tộc ta. Những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong nước và thế giới trên lĩnh vực nghiên cứu và sản xuất lúa đã thúc đẩy mạnh mẽ ngành trồng lúa nước ta vươn lên bắt kịp trình độ tiên tiến của thế giới. Những năm gần đây, Việt Nam đã tham gia vào thị trường lúa gạo quốc tế với sản lượng gạo xuất khẩu hàng năm đứng thứ 2 – 4 trong số các nước xuất khẩu gạo nhiều nhất thếgiới. ĐBSCL là vựa lúa lớn nhất của cảnước, đã góp phần quan trọng trong thành quả chung đó. Trường Đại Học Cần Thơ– “một Trung Tâm Văn hóa Khoa học và Kỹ thuật của ĐBSCL” đã có những đóng góp tích cực cho sản xuất lúa trong vùng, dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó chức năng đào tạo đội ngũ cán bộkhoa học kỹ thuật cho ĐBSCL là hết sức quan trọng.

Từ sau ngày giải phóng đến nay, Trường đã cung cấp cho ĐBSCL hàng ngàn kỹ sư trồng trọt, hàng chục thạc sĩ, tiến sĩ và còn tiếp tục đào tạo hàng năm. Trong chương trình đào tạo, cây lúa bao giờ cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể. Nhu cầu về một tài liệu chuẩn, cập nhật hóa và ĐBSCL hóa để sinh viên tham khảo là hết sức cần thiết. Do đó, bằng kiến thức và kinh nghiệm cá nhân và nỗ lực học hỏi ở đồng nghiệp, cộng với việc tra cứu sách báo, tài liệu trong và ngoài nước, chúng tôi cốgắng soạn thảo giáo trình nầy nhằm phục vụ yêu cầu trên.
Giáo trình nầy được phát triển dựa trên Giáo trình cây lúa đã được xuất bản trong Tủ sách Đại Học Cần Thơ năm 1994, có sửa chữa, bổsung và cập nhật. Những thay quan trọng là sự sắp xếp lại các chương hợp lý hơn, bổ sung chương “Phẩm chất hạt”, tăng cường tài liệu tham khảo, bổ sung kiến thức từng phần và hình ảnh minh hoạ. Mặc dù chúng tôi đã cốgắng rất nhiều trong việc biên soạn và sửa chữa, giáo trình cũng không tránh khỏi những sai sót nhất định. Mong các đồng nghiệp và bạn đọc vui lòng đóng góp để giáo trình ngày càng tốt hơn, đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường.

Read More
  • Share This:  
  •  Facebook
  •  Twitter
  •  Google+
  •  Stumble
  •  Digg
Bài đăng cũ hơn Trang chủ

Popular Posts

  • (không có tiêu đề)
    Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu sữa chua Vinamilk tại TPHCM Nguồn: Luận văn thạc sĩ trường Đại học Tài...
  • Giáo trình phương pháp nghiên cứu khoa học (PGS.TS. Đồng thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Ngọc An)
    Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học Nguồn: Nhà xuất bản Lao động - Xã hội PGS.TS. Đồng Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Ngọc An (2012) Ke...
  • Bài giảng môn Kỹ năng quản lý thời gian - Viện nghiên cứu kinh tế ứng dụng (UFM)
    Bài giảng môn Kỹ năng quản lý thời gian Nguồn: Trường Đại học Tài chính - Marketing Viện nghiên cứu kinh tế ứng dụng, bộ môn Kỹ năng mềm Key...
  • [PDF] The One Page Proposal (How to get your business pitch onto one persuasive Page)
    DOWNLOAD:  [PDF] Size: 2 Mb
  • Bài giảng môn Kỹ năng làm việc nhóm - Viện nghiên cứu kinh tế ứng dụng (UFM)
    Bài giảng môn Kỹ năng làm việc nhóm Nguồn: Trường Đại học Tài chính - Marketing Viện nghiên cứu kinh tế ứng dụng, bộ môn Kỹ năng mềm Keyword...
  • Aaker's Brand Equity model - Mô hình tài sản thương hiệu của Aaker
    Aaker's Brand Equity model Mô hình tài sản thương hiệu của Aaker Nguồn: European institute for brand management. D. Aaker, 2009. Aaker...
  • [PDF] Advanced Fluorescence Microscopy (Methods and Protocol)
    DOWNLOAD:  [PDF]
  • The development of a method of measuring job satisfaction: The cornell studies
    The development of a method of measuring job satisfaction: The cornell studies Nguồn: Section Four - Motivation, attitude and satisfaction P...
  • Measurement of Human Service Staff Satisfaction: Development of the Job Satisfaction Survey, Paul E. Spector (1985)
    Measurement of Human Service Staff Satisfaction: Development of the Job Satisfaction Survey Nguồn: American  Journal  of  Community   Psych...
  • Download Tài Liệu Giáo Trình Lập Trình Android và File Thực Hành
    DOWNLOAD 1 DOWNLOAD 2 DOWNLOAD ANDROID P2 1 DOWNLOAD ANDROID P2 2

E-Service Quality and E-Recovery Service Quality: Effects on Value Perceptions and Loyalty Intentions

E-Service Quality and E-Recovery Service Quality: Effects on Value Perceptions and Loyalty Intentions Nguồn: Procedia - Social and Behaviora...

Tìm kiếm Blog này

Được tạo bởi Blogger.

Lưu trữ Blog

  • tháng 7 2019 (18)
  • tháng 5 2019 (1)
  • tháng 3 2019 (1)
  • tháng 2 2019 (15)
  • tháng 1 2019 (1)
  • tháng 11 2018 (24)
  • tháng 10 2018 (20)
  • tháng 8 2018 (4)
  • tháng 6 2018 (11)
  • tháng 5 2018 (8)
  • tháng 4 2018 (38)
  • tháng 12 2017 (2)
  • tháng 11 2017 (3)
  • tháng 10 2017 (42)
  • tháng 9 2017 (3)
  • tháng 8 2017 (15)
  • tháng 7 2017 (17)
  • tháng 6 2017 (37)
  • tháng 5 2017 (26)
  • tháng 4 2017 (1)
  • tháng 1 2017 (2)
  • tháng 12 2016 (14)
  • tháng 11 2016 (10)
  • tháng 10 2016 (1)
  • tháng 5 2016 (3)
  • tháng 4 2016 (13)
  • tháng 11 2015 (1)
  • tháng 10 2015 (2)
  • tháng 9 2015 (7)
  • tháng 8 2015 (19)
  • tháng 7 2015 (14)
  • tháng 6 2015 (19)

Nhãn

  • Attributes
  • autocad 3d sang 2d
  • autocad chon loc
  • autocad hay nhat
  • autocad pho bien nhat
  • Báo cáo
  • BAOKH
  • cao thu autocad
  • chia sẻ
  • chieu cao chu autocad
  • Công nghệ thông tin
  • dien tich hatch autocad
  • đồ án
  • ebook
  • english
  • Fields
  • Funny
  • giam dung luong autocad
  • giáo trình
  • giao trinh autocad
  • giao trinh chon loc
  • Giáo trình đại học
  • GIAOTRINH
  • GOCGIAITRI
  • GOCUFM
  • HDVIETLV
  • HOT
  • Kinh tế
  • korean
  • LUANVANMAU
  • Luận văn
  • meo hay autocad
  • Nghiên cứu khoa học
  • Nông nghiệp
  • others
  • phat
  • Quảng trị doanh nghiệp
  • ram ao autocad
  • renumber
  • sách
  • Software
  • SPSS
  • tai autocad mien phi crack
  • tài liệu
  • Tài liệu dự án
  • templates
  • thong ke dien tich autocad
  • thu thuat chu autocad
  • thu thuat hay autocad
  • thu vien autocad
  • Tutorial
  • viet
  • vo-thuat
  • Websites
  • Yoga

Báo cáo vi phạm

  • Trang chủ

Giới thiệu về tôi

Admin
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Copyright © Book Blog | Powered by Blogger
Design by Hardeep Asrani | Blogger Theme by NewBloggerThemes.com | Distributed By Gooyaabi Templates